Thứ Năm, 13 tháng 8, 2015

Một sai lầm “di truyền” qua nhiều thế hệ từ điển và hệ quả trong y-dược học


Lê Mạnh Chiến

I. Một sai lầm di truyền qua nhiều thế hệ từ điển ở Việt Nam
1.  Chữ Vị (= ) trong các tự điển /từ điển Hán – Việt và Việt - Hán
      Hán – Việt từ điển của Đào Duy Anh (xuất bản năm 1932, nay vẫn được in lại và lưu hành rộng rãi) cho biết:  Vị  = tên loài thú, tức con nhím.  Hán - Việt tân từ điển của Nguyễn Quốc Hùng (Khai trí, Sài Gòn, 1975)  cũng viết: Vị = con nhím.
      Tất cả các quyển từ điển  Hán -  Việt  ra đời từ năm 1990 đến nay, như Từ điển Trung – Việt của Viện Khoa học Xã hội Việt nam (Do 12 người biên soạn, với một ban chỉ đạo, Nxb  Khoa học xã hội, 1992), Từ điển Hán Việt  hiện đại do Nguyễn Kim Thản chủ biên (Nxb Thế giới, 1994), Từ điển Hán – Việt  do Phan Văn Các chủ biên (Nxb Khoa học xã hội, 2002) v.v., đều cho rằng, Vị ()hoặc Thích vị nghĩa là con Nhím. Ngoài ra, còn có từ Hào trư cũng là Nhím.  
     Hán  - Việt tự điển của Thiều Chửu (xuất bản năm 1942, hiện nay vẫn được in lại liên tục) cũng cho  rằng, chữ Vị ,cũng viết là , nghĩa là con dím (nhím). Tất cả các quyển tự điển Hán – Việt khác, như Từ điển Hán Việt văn ngôn dẫn chứng của Nguyễn Tôn Nhan hoặc của các soạn giả khác gần đây cũng đều viết: Vị () = con nhím.
       Từ điển Việt – Hán của Hà Thành, Trịnh Ngọa Long, Chu Phúc Đan, Dương Đức Luân (xuất bản ở Bắc Kinh trong những năm 60 của thế kỷ trước,  nay được Nxb Giáo dục tái bản nhiều lần) cũng viết: dím (rím, nhím, con dím) = (Thích vị).  Đại từ điển Việt Hán của Phan Văn Các (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2007) cũng viết: nhím = (thích vị).
       Danh từ Vị ()đồng nghĩa với Thích vị (thích  nghĩa là gai nhọn). Tân Hoa tự điển 华字典 và tất cả các tự điển/từ điển Hán ngữ  đều xác nhận điều đó.
       Qua một số dẫn chứng vừa kể và rất nhiều dẫn chứng khác mà không cần nêu thêm nữa, độc giả đủ  thấy rằng, danh từ Vị ()trong Hán ngữ, cũng  là Thích vị ,  đã  được tất cả những người biên soạn từ điển ở Việt Nam  hiểu là con Nhím.

2 . Vài nét khái quát về Nhím

         Để xác nhận hoặc cải chính cách hiểu chữ Vị () hoặc Thích vị  trong giới học thuật từ trước đến nay, cần phải tra cứu các từ điển/tự điển hiện đại có uy tín của Trung Quốc. Mặt khác, cũng cần  phải biết rõ hình dáng, độ lớn và những thuộc tính của Nhím (có nơi gọi là Dím).
Từ điển Bách khoa Việt Nam cho biết (nguyên văn):
      NHÍM   (Hystricidae): họ thú gặm nhắm cỡ lớn,  phân bộ Hình nhím (Hystricomorpha), bộ Gặm nhấm (Rodentia). Bộ lông dài có gai cứng và  trâm nhọn  để tự vệ; gai có khoanh đen xen trắng. Thân dài 65 – 90cm. Đuôi  dài 12 – 15cm. Nặng 12 – 20kg. Ăn thức ăn tinh bột (rễ, củ, hạt), lá non, măng tre, nứa; ăn hại hoa màu (sắn, ngô). Có 4 – 6 loài, sống ở hang, trong rừng rậm, núi đất, sườn đồi thuộc Châu Á, Châu Phi.
      Ở Việt Nam, thường gặp:  1) Nhím Hystrix (Acanthion) brachyura, nặng 15 – 20kg, đào hang, sống thành đôi hay từng gia đình nhỏ, kiếm ăn ban đêm. Nhím cái chửa 115 – 120 ngày, mỗi năm đẻ hai lứa vào mùa xuân và mùa thu. Con non nặng 300 – 400g, thành thục sau một năm;  2) Don Atherurus macrurus, nặng 8 – 10kg, lông nhỏ và hơi dẹp. sống ở hốc và ngách núi đá. Nhím kiếm ăn theo đàn, khi gặp nguy hiểm, Nhím xù lông, đi giật lùi rồi thình lình lao vào kẻ thù.
       Căn cứ vào tên khoa học của Họ Nhím (bằng tiếng Latin, thống nhất trên toàn thế giới) là Hystricidae, chúng ta dễ dàng tìm được đúng tên của Nhím trong các ngôn ngữ Anh, Pháp, Nga và Hán lần lượt là Porcupine, Porc-épic, Дикобраз, Hào trư  (hoặc Tiễn trư ). Các bộ Đại bách khoa toàn thư của các nước  đều viết về  Nhím tương tự như  Từ điển Bách khoa Việt Nam.  







Nhím đuôi ngắn hay Nhím Mã Lai,  Hystrix brachyura

Nhím Ấn Độ hay Nhím Bờm, Hystrix indica
        
          Việc tra cứu thư tịch nước ngoài đã giúp chúng tôi biết thêm một số điều như sau.  Loài Don có tên bằng tiếng Anh là Asiatic Brush-tailed Porcupine (= Nhím đuôi chổi Châu Á). Loài Nhím hay gặp nhất ở Việt Nam là Hystrix (Acanthion) brachyura, tức là Nhím đuôi ngắn,  có tên bằng tiếng Anh là Malayan Porcupine (= Nhím Mã lai). Ở Việt Nam còn có thể gặp loài Nhím Trung Quốc Hystrix hodgsoni (Himalayan porcupine  hay Chinese Porcupine) và Nhím Ấn Độ hay Nhím bờm Hystrix indica (Indian  Porcupine hay  Indian Crested Porcupine). Các loài này khác nhau rất ít. và có địa bàn sinh sống xen nhau. Nhím không ưa khí hậu lạnh nên chỉ có mặt từ lưu vực sông Trường Giang xuống phía nam.