Lê Mạnh Chiến lược thuật và khảo chứng
Hàng năm, sau tết nguyên đán, nhóm bạn
đồng môn trung học (cấp 2) hồi trước năm 1954 của chúng tôi thường tổ chức cuộc
họp mặt đầu năm để nhó lại những kỷ niệm sâu đậm xa xưa trong thời kháng chiến
chống Pháp, để đổi những suy tư hoặc chia sẻ những niềm vui, nỗi buồn. Năm nay, họ gặp nhau vào ngày mùng 6 tháng
giêng âm lịch tại nhà bạn Minh Trí ở quận Tây Hồ. Anh bạn này có ngôi nhà khang
trang, có sân, có vườn, rất thích hợp với những cuộc họp mặt vui vẻ. Hơn nữa,
anh lại là người ham đọc sách, có thói quen tra cứu kỹ lưỡng, có suy nghĩ độc lập,
chịu khó mua sắm những quyển sách mà anh cảm thấy cần thiết cho sự hiểu biết của
mình nên anh có vốn hiểu biết khá sâu rộng. Đến nhà anh, bao giờ chúng tôi cũng biết thêm
nhiều điều lý thú và bổ ích. Nhờ thời tiết ấm áp nắng ráo nên số người tham dự
đông hơn mọi năm. Vài người còn dẫn ông bạn già cùng đến họp, khiến cuộc gặp mặt
năm nay càng thêm đông vui, gồm gần hai chục ông già trên dưới 75 tuổi, có người
80 tuổi. Buổi gặp mặt năm nay có khác
hơn mọi năm vì đã diễn ra một cuộc thảo luận khá sôi nổi về một chủ đề liên quan đến văn hóa và giáo dục.
I. Cuộc mạn đàm ngoài dự kiến
Sau một
hồi chào hỏi, tay bắt mặt mừng, thông báo với nhau về tình hình gia sự, về con cháu nội ngoại,
ôn lại những kỷ niệm xa xưa, nói lên những
niềm vui nỗi buồn và đôi điều mong muốn ở tuổi già, chúng tôi cùng nhau ăn uống
qua loa nhẹ nhàng, định sẽ đi thăm mấy ngôi chùa ở gần đấy rồi chụp vài tấm ảnh chung để làm vật kỷ niệm,
theo dự kiến. Bỗng bác M.H., một vị khách, vốn là cán bộ cấp cao của ngành giáo
dục thông báo:
▌Năm nay, có một sự kiện rất đáng mừng,
nhất là đối với những người từng làm thầy giáo, đó là việc Hội đông Nhân dân TP Hà Nội đã quyết định sắp tới đây sẽ lấy tên
Giáo sư Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân để đặt cho một đường phố dài 2km tại nội thành. Giáo sư Nguyễn Lân
là một thầy giáo nổi tiếng, một tài năng lỗi lạc, một đại trí thức uyên bác, một
nhà sư phạm kiệt xuất. Điều đó thì hầu như mọi
người đều biết, nhưng có lẽ một số bác còn chưa biết những nét cụ thể về
cuộc đời của người thầy giáo mẫu mực này, nên tôi xin phép nhắc lại đôi nét về bậc “sư biểu” huyền
thoại của chúng ta để chia sẻ niềm vui chung.
GS Nguyễn Lân
sinh ngày 14 tháng 6 năm 1906 trong một
gia đình nhà nông nghèo, hiếu học ở làng Ngọc Lập, huyện Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên. Ông
bước vào nghề dạy học rất sớm. Từ năm 1923 đến năm 1935, ông dạy học ở
hai trường tư thục Hồng Bàng vả Thăng
Long. Ông đã từng thi đỗ thủ khoa vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương và cũng thi đỗ tốt nghiệp thủ khoa của trường
này. Tại Trường Tư thục Thăng Long, cùng với các nhà giáo giỏi như Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Bình
..., ông đã đào tạo được những tú tài xuất sắc cho Việt Nam. Từ
năm 1935 đến năm 1945, ông dạy học tại Huế. Năm 1946, ông ra Hà Nội và dạy học tại Trường Chu Văn An. Khi kháng chiến bùng nổ, ông đưa vợ
con lên vùng Việt Bắc và được cử làm Giám đốc giáo dục Liên khu 10 gồm 6 tỉnh: Yên Bái, Phú Thọ, Vĩnh Yên (nay là Vĩnh Phúc), Tuyên Quang, Lào Cai và Hà Giang. Năm 1951, ông được cử đi dạy ở Khu học xá tại tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Năm 1956, ông giảng dạy và làm chủ nhiệm Khoa
Tâm lý- Giáo dục của trường Đại học Sư phạm
Hà Nội đến khi về
hưu. Cùng với các nhà giáo nổi tiếng và xuất sắc khác như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Ngụy Như Kon-Tum, Đặng Thai Mai,
Nguyễn Khánh Toàn..., ông thuộc lớp người đầu tiên được
nhà nước Việt Nam phong Học hàm Giáo sư. Năm 1971, ông về hưu ở tuổi 65. Từ đó cho đến khi qua đời, ông
đã dành trọn thời gian cho việc nghiên cứu
và gìn giữ sự trong sáng của tiếng Việt. Ông đã biên soạn nhiều cuốn từ điển nổi tiếng như: Từ
điển Pháp – Việt, (1981), Từ điển từ và ngữ Hán - Việt,
(1989), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Pháp – Việt
(1993), Từ điển từ và ngữ Việt Nam
(2000), v.v. Năm 1988, ông được nhà nước Việt Nam phong
tặng danh hiệu Nhà giáo nhân dân. Năm 2001, ông được trao tặng Giải
thưởng nhà nước
về khoa học và công nghệ cho "Cụm công trình về giáo dục học và từ điển
tiếng Việt". Ngày 7 tháng 8 năm 2003, ông qua đời ở tuổi 97, tại Hà Nội ▌
Bầu không khí bỗng trầm lắng một lúc,
hình như mọi người còn phải cân nhắc, suy nghĩ một lát, rồi bạn Nguyễn Kỳ lên tiếng:
▌Những điều bác khách vừa kể, chúng tôi đều đọc được ở một số sách báo gần đây. Trong Diễn văn khai mạc Hội thảo Kỷ niệm 100 năm ngày sinh GS Nguyễn Lân, 1906 – 2006, GS TS Nguyễn Viết Thịnh, Hiệu trưởng Trường
Đại học Sư phạm Hà Nội đã nói: “.....Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân
còn la một nhà văn, nhà thơ, một nhà biên soạn từ điển mẫu mực với 42
tác phẩm đồ sộ là những di sản rút ra từ những nghiên cứu, những định hướng có giá trị về nhân cách trong sự phát triển
nền giáo dục của nước nhà nhằm phát huy sức mạnh truyền thống mang đậm bản sắc
dân tộc với những tiến bộ về văn hóa giáo dục của thế giới.”
Được biết, nhà giáo Nguyễn Lân đã biên soạn 10 quyển từ điển, gồm 5 quyển
được biên soạn “cùng tập thể” và 5 quyển là sản phẩm của một mình ông,
trong số đó có hai quyển quan trọng nhất,
đó là Từ điển từ và ngữ Hán Việt (865
trang, Nxb TP Hố Chí Minh, 1989) và Từ
điển từ và ngữ Việt Nam (2111 trang, Nxb TP Hồ Chí Minh, 2000). Kể về số
lượng thì như thế cũng đã khá nhiều. Cuốn sách Từ điển từ và ngữ Hán – Việt
đã được GS Lê Trí Viến khẳng định rằng “..., nó sẽ là một công cụ tra cứu rất quý
không thể thiếu được đối với bất kỳ ai, trước hết là học sinh, sinh viên, các
thầy cô giáo, các nhà nghiên cứu, biên soạn, khi muốn nắm được nghĩa chính xác
của các từ và ngữ Hán-Việt trong tiếng
Việt hiện nay”. Còn về cuốn Từ điển từ
và ngữ Việt Nam thì GS Vũ
Khiêu đánh giá rằng, “...trí tuệ và tâm
huyết của tác giả đã tạo ra một tác phẩm
rất có giá trị mà cả xã hội đang mong đợi”. Nhờ sự đánh giá rất cao như vậy
cho nên cuốn Từ điển từ và ngữ Việt Nam
mới in xong trong tháng 3 năm 2000 thì cuối năm đó nhà giáo Nguyễn Lân được xét tặng Giải thường Nhà nước.
Chẳng bao lâu
sau đó, khi đọc bài Đọc
lướt Từ điển từ và ngữ Việt Nam của
Nguyễn Lân (chỉ mới “đọc lướt” ba
mục chữ cái A, B, C mà đã thấy 107 cái sai!) và bài Những chỗ sai khó ngờ trong «Từ điển thành ngữ và tục
ngữ Việt Nam» của Nguyễn Lân (cả hai bài đều của Huệ Thiên), rồi đến bài Hai
quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt (của Lê Mạnh Chiến) viết về từ điển
của Nguyễn Lân thì mọi người vô
cùng kinh ngạc về thành tích làm hại
tiếng Việt của một người vốn được coi
là có công lao đặc biệt trong việc “gìn
giữ và bảo vệ sự trong sáng của tiếng Việt”. Độc giả chỉ cần gõ tên từng bài kia
lên thanh tìm kiếm của Google thì sẽ tìm thấy ngay trên mạng Internet. Gần đây
có thêm các loạt bài của Hoàng
Tuấn Công (Từ điển từ và ngữ Việt Nam của GS Nguyễn Lân, mục chữ
cái nào cũng có sai sót; Những sai lầm mang tính hệ thống trong “Từ điển thành
ngữ và tục ngữ Việt Nam” của GS Nguyễn Lân; Thử lý giải những sai sót để đời của
Nhà biên soạn từ điển – GS Nguyễn Lân, và v.v.) thì nỗi kinh hoàng càng tăng lên gấp bội. Phài
khẳng định rằng, tính xác thực của các bài báo này rất cao, không thể chối cãi được. Ngay khi còn sống, nhà giáo Nguyễn Lân
đã có phản ứng gay gắt đối với bài Đọc
lướt Từ điển từ và ngữ Việt Nam của
Nguyễn Lân của Huệ Thiên nhưng không đưa ra được lý lẽ gì để phản bác. Còn ông
Nguyễn Lân Dũng (con trai của ông Nguyễn Lân) thì hết sức bực
tức đối với bài Hai quyển từ điển rất có hại cho tiếng Việt của Lê Mạnh Chiến ngay từ phút đầu tiên khi ông ấy đọc được trên báo Người Đại biển Nhân dân, nhưng từ đó đến nay đã gần chục năm trôi
qua mà ông Dũng cùng những người có tâm trạng như ông ta không thể viết được
một dòng phản bác, mặc dầu họ có quá thừa quyết tâm và thời gian để làm việc đó. Đối với trọng trách của một người thầy giáo,
không có điều gì tệ hại bằng việc truyền bá những “tri thức” sai lệch, không có
điều gì đáng chê trách bằng việc giảng dạy cho người khác những điều mà mình
chưa học hoặc chưa hiểu biết kỹ càng. Từ điển về tiếng Việt là sách giúp mọi
người hiểu rõ tiếng Việt, là sách tra cứu cho mọi người sử dụng tiếng Việt, gồm
cả học sinh và các thầy giáo, các nhà văn, nhà báo, các nhà nghiên cứu, cả
người Việt Nam và người nước ngoài. Vẫn biết rằng, biên soạn từ điển là một
việc rất khó, nhưng cái khó nằm ở chỗ định nghĩa hoặc giải thích những từ ngữ,
những khái niệm quá trừu tượng, quá khó hiểu chứ không phải nằm ở mọi từ ngữ
hoặc mọi khái niệm đơn giản hay ở sự nhặt nhạnh các từ ngữ.. Hơn nữa, người
biên soạn hoàn toàn chủ động trong việc đưa từ ngữ này vào từ diển hoặc tạm
tránh từ ngữ kia, tùy theo thực lực của mình. Như vậy, người giỏi thì biên soạn
được từ điển phong phú về số lượng từ ngữ, sâu rộng và chính xác về ngữ nghĩa;
người chưa giỏi thì từ điển do ông ta biên soạn ra ắt phải nghèo nàn, hời hợt, không đáp ứng được
yêu cầu của độc giả, nhưng vẫn có thể hạn chế được mọi sai sót. Nếu biết rõ
năng lực của mình, biết đến đâu thì giảng đến đấy, nhất thiết không được dạy bảo người khác về
điều mà mình chưa biết rõ thì làm gì có chuyện sai nhan nhản trong một cuốn từ
điển, ngay cả ở những từ ngữ rất bình thường, rất đơn giản. Thật đáng ngạc
nhiên khi người ta cố ý lảng tránh những
lời cảnh báo về những cuốn từ điển có hại kia và cứ ca tụng một chiều, quá đáng,
bỏ qua sự thật, rồi nâng tác giả của
những cuốn từ điển ấy thành bậc “sư
biểu”, tức là mẫu mực về học vấn và đạo đức ▌
Mọi người tần
ngần, dường như chờ đợi ý kiến của bác M.H. nhưng một lúc sau vẫn không thấy
ông có ý kiến gì. Dường như ông không thể có ý kiến gì khác. Ông chủ nhà xin
phép nói:
▌Trong 10 năm
gần đây, đã xuất hiện ba cuốn sách chuyên đề về nhà giáo Nguyễn Lân. Thứ
nhất là cuốn Vinh quang nghề thầy (NXB
Giáo dục, Hà Nội, 2004, 440 trang) do Nguyễn Lân Dũng tuyển chọn hoặc mời người
viết bài. Thứ hai là cuốn Giáo sư Nhà
giáo Nhân dân Nguyễn Lân với sự nghiệp trồng người – Kỷ yếu hội thảo kỷ niệm
100 năm ngày sinh Giáo sư NL 1906 – 2006 (gọi tắt là Kỷ yếu I, 114 trang, do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ấn hành ngày
14 tháng 6 năm 2006). Thứ ba là cuốn Nhà giáo Nhân dân Giáo sư Nuyễn Lân – cuộc đời và sự nghiệp (gọi
tắt là Kỷ yếu II, 220 trang, do
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ấn hành tháng 12 năm 2013).



Trang bìa ba cuốn sách về Nhà giáo nhân dân Nguyễn Lân
Chúng tôi đã
đến các cơ quan xuất bản các tập sách
này để hỏi mua nhưng đều được trả lời rằng: “Đây là sách do gia đình GS
Nguyễn Lân bỏ tiền ra in để biếu nhằm tuyên truyền trong phạm vi cần thiết chứ
không bán”. Cả ba cuốn sách đều không ghi giá bán ngoài bìa. Ngay cà Thư viện
Quốc gia cũng không có ba cuốn sách này. Thực chất, chúng là những bản xưng
tụng trong nội bộ gia đình, là những nén hương của con cháu, của học trò,
của những người thân, những người ngưỡng
mộ hoặc có quan hệ xa gần nào đó thắp trên bàn thở để tưởng niệm người quá cố.
Bởi vậy, những bài viết trong đó không
cần tính chính xác, tính chặt chẽ, miễn
sao cứ viết thật hay thật đẹp về người đã khuất, không cần dẫn chứng. Độc giả của chúng (là những người
được tặng sách) cũng là những đối tượng được chọn lọc kỹ càng.
Người ta đã hiểu lầm khi coi những buổi tưởng niệm người quá
cố với những bài tán tụng một chiều là những hội thào khoa học, coi các tập Kỷ yếu về các hội thảo ấy là những văn
bản đánh giá, khẳng định công lao, thành
tích khoa học sáng ngời và phẩm chất vô cùng cao quý của người quá cố, rồi từ
đó dựng nên một thần tượng để cho thế hệ hiện tại và mọi thế hệ mai sau tôn
thờ. Điều đó đã dẫn đến Quyết định của HĐND thành phố Hà Nội về việc sử dụng
tên Nguyễn Lân để đặt cho một con đường lớn ở trong thành phố. Sự thật thì ba tập sách kia về nhà giáo Nguyễn Lân hoàn
toàn không đủ độ tin cậy để đánh giá tài năng và cống hiến của ông. Chúng tôi đã có ý định tổ chức một cuộc thảo luận về vấn đề này trong đám
bạn bè cùng những người quan tâm, nhằm
kiểm chứng những điều đã được viết trong đó.
Hôm nay, nhân việc bác M.H. nhắc đến
tin này, bạn Nguyễn Kỳ và tôi đã phát biểu vài lời hé lộ chút ít sự thực. xung
quanh huyền thoại về nhà giáo Nguyễn Lân. Lâu nay, tôi và một số bạn có mặt ở
đây đã chú ý đến huyền thoại này nên đã thu
thập được khá nhiều chứng cứ quan trọng đủ để khẳng định được một số điều rất
cụ thể. Mong rằng, sắp tới chúng ta sẽ có một cuộc họp mặt
để thảo luận về câu chuyện này.▌
Mọi người trao đổi rì rầm một lúc. Vài phút sau, có người lên
tiếng:
- Vậy thì ngay hôm nay, ông chủ nhà cứ “thuyết trình” cho
chúng tôi nghe rồi mọi người cùng mạn đàm có phải tiện lợi hơn không? Tôi đề nghị mọi người không đi thăm chùa chiền nữa, để nghe thêm về câu chuyện hấp dẫn và bổ
ích này. Các bác có đồng ý như vậy không?”
Có tiếng nói to: “Chuyện đáng quan tâm như thế, bỏ dở sao đành”.
Mọi người đồng
thanh lên tiếng: “hãy cứ tiếp tục ”.
Chủ nhà vui vẻ đáp :
Chủ nhà vui vẻ đáp :
Nói là “thuyết trình” thì có vẻ trịnh trọng quá, chúng tôi không dám nhận lời. Nhưng các bác có thể đặt câu hỏi, tôi và các bạn khác biết đến đâu thì trả lời đến đấy, và mọi người chắc cũng có nhiều ý kiến đóng góp thêm. Cần phải nói ngay rằng, nhiều người đã nghe nói hoặc đã đọc các bài viết về nhiều phẩm chất tốt đẹp tuyệt vời của nhà giáo Nguyễn Lân (tuy không có dẫn chứng cụ thể), trong đó, phần lớn đều là những lời ngoa truyền, khác xa sự thực nên chưa mấy ai biết về những “mặt trái” rất đáng chê trách của ông cùng những tai hại do chúng gây ra. Mặc dầu đã có một số tác giả vạch rõ rất nhiều sai lầm ngbiêm trọng trong các từ điển của nhà giáo Nguyễn Lân, với đầy đủ dẫn chứng chặt chẽ, nghiêm túc và có trách nhiệm nên suốt nhiều năm qua không ai bác bỏ được, nhưng dường như những lời tán tụng một chiều vẫn che khuất những tiếng nói trung thực. Bởi vậy, ở đây chúng ta cần nói rõ vè những sự thực còn ít người biết về nhà giáo này, với những dẫn chứng rất cụ thể, “nói có sách, mách có chứng”.
Thế là cuộc gặp mặt đầu năm của nhóm cựu học sinh chúng tôi chuyển thành một cuộc mạn đàm, tạm gọi là “Góp
phần tìm hiểu về nhà giáo Nguyễn Lân”. Ông chủ nhà ôm ra một chồng lớn gồm một số quyển sách, nhiều tờ báo và nhiều bài
báo in rời để giúp cử tọa tìm hiểu và đặt
câu hỏi. Mọi người vừa lắng nghe vừa háo hức chuyền tay nhau đọc lướt qua các
tập sách báo để tìm hiểu thêm.
II. Trả lời một số câu hỏi thiết thực
Câu hỏi 1:
Trả lời:
Câu hỏi 2:
Trả lời:
II. Trả lời một số câu hỏi thiết thực
Câu hỏi 1:
Bác M.H. đã nói về những sự kiện quan trọng
trong quãng đời học tập và giảng dạy của Nhà giáo Nguyễn Lân, trong đó có những điều gì chưa đúng hoặc thiếu
chính xác?
Trả lời:
▌Bạn Nguyễn Kỳ vừa nói rằng, “Những điều bác khách vừa kể, chúng tôi đều
đọc được ở một số sách báo gần đây”. Đó là sự xác nhận về việc bác
M.H. đã nói rất trung thực theo những điều đã được ghi nhận trên sách báo. Chỉ
có điều oái oăm là, các sự kiện đó được các tác giả viết đi viết lại mà vẫn
không ăn khớp với nhau, nhiều khi không
đúng. Sau đây là một số ví dụ.
● Tiểu sử Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân (ở
sách Vinh
quang nghề thầy và cả ở Kỷ yếu I)
đã ghi: “Dạy học tại hai trường tư thuc
Hồng Bàng và Thăng Long (từ
1923 đến 1935)”, và “Chủ nhiệm
khoa Tâm lý – Giáo dục Trường Đại học Sư phạm Hà Nội từ năm 1956 đến năm
1971 (về nghỉ hưu)
● GS
Nguyễn Đình Chú viết: “Năm 1932,
Nguyễn Lân tốt nghiệp thủ khoa Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương và chính thức
bước vào nghề dạy học, mở trường tư thục Thăng Long ở Hà Nội.” (Kỷ yếu II, trang 11) ;
● PGS
Lê Khánh Bằng viết : “Năm 1927, thầy đỗ khoa thi vào Trường Cao đẳng Sư phạm
Đông Dương. Năm 1932, thầy dạy tại trường Thăng Long, Hà Nội “ ....Năm
1956, thầy về dạy tại Khoa Tâm lý – Giáo dục của trường ĐH SP HN , rối sau đó
làm chủ nhiệm khoa. Thầy đã được phong
học hàm Giáo sư (Kỷ yếu II,trang
89, 90 )
● Th.S Vũ Thị Mai Hường viết: “Năm 1932, Nguyễn Lân
tốt nghiệp thủ khoa Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương và chính thức bước vào
nghề dạy học. Ông đã bắt đầu với việc mở Trường Tư thục Thăng Long ở Hà Nội” (Kỷ yếu II, trang
208 -209 ).
● Th.S Nguyễn Thúy Quỳnh viết: “Năm 1927, Nguyễn Lân đỗ thủ khoa vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Năm 1932,
ông dạy tại trường Hồng Bàng, sau đó, làm giám học và dạy 2 môn Văn, Sử tại Trường
Thăng Long. Cùng với các nhà giáo giỏi như Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Tôn
Thất Bình..., ông đã đào tạo ra những tú tài xuất sắc cho Việt Nam (Kỷ yếu II, trang 195).
● Bản tin của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia (do Minh Vượng
tổng hợp) viết: “Năm 1927, ông thi đỗ
Thủ khoa vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Năm 1932, tốt nghiệp
thủ khoa của trường, ông về dạy học tại Trường Hồng Bàng (Hải Phòng);
sau đó làm giám học và dạy 2 môn Văn, Sử
tại Trường Thăng Long (Hà Nội). Tại Trường Tư thục Thăng Long, cùng với
các nhà giáo giỏi như Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Bình ... ông đã đào
tạo được những tú tài xuất sắc cho Việt Nam. Từ năm 1935 đến năm 1945 ông
sinh sống tại Huế.”
● Từ điển Wikipedia tiếng Việt, trong bài tiểu sử
nhà giáo Nguyễn Lân cũng viết: Năm 1927: Ông thi đỗ Thủ
khoa vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương.
Rõ ràng là những điều bác M.H. đã nói về nhà
giáo Nguyễn Lân đều đã được đăng tải trên các sách báo. Phải nói rằng, bác
M.H. nhớ rất chính xác những điều mà mình đã đọc.
Theo “Hồi ký giáo dục” do chinh nhà giáo Nguyễn Lân viết (mà những người
có bài trong hai tập Kỷ yếu hội thảo
I và II đều được phân phát từ trước) thì năm 1927, ông mới tốt nghiệp Trường
Bưởi (tương đương tốt nghiệp Trung học
cơ sở, tức là lớp 9 hiện nay) nhưng
không thi vào Cao đẳng Sư phạm, mà xin
dạy tiểu học tại Trung Bắc học hiệu ở phố Lý Quốc Sư hiện nay (Vinh quang nghề thầy, trang 16) . Như
vậy, năm 1923, ông mới tốt nghiệp tiểu học, chưa đi dạy học. Năm 1927, ông
chưa thi vào trường Cao đẳng Sư phạm Đông dương nên không thể đỗ thù khoa trong
kỳ thi vào trường năm ấy, như nhiều người đã viết. Năm 1929, ông mới thi đỗ vào Trường Cao đẳng Sư phạm (không
thấy nói đỗ thủ khoa trong kỳ thi này), đến năm 1932 thì tốt nghiệp (ông
viết là đỗ đầu trong nhóm 7 người học Văn) và ra dạy học tại Trường tư thục Hồng Bàng ở phố Hàng Trống (trang 19). Dạy ở trường Hồng Bàng 2 năm, ông
mới chuyển sang dạy Trường Thăng Long từ
năm 1934, đến năm 1935 thì ông bị chuyển vào Huế. Tuy
nhiều tác giả viết rằng ông là người sáng lập Trường tư thục Thăng Long, nhưng
không phải như vậy, vì trường này đã được thành lập từ năm 1929 (khi ông Nguyễn
Lân mới bắt đầu vào học Cao đẳng Sư phạm). Sự thực là như vậy: ngày 19/11/2009 trường này đã làm lễ
kỷ niệm 80 năm thành lập, (xem: http://www.vietnamplus.vn/80-nam-thanh-lap-truong-tieu-hoc-thang-long/25765.vnp), có Phó chủ tịch nước
là bà Nguyễn Thị Doan tham dự.
Trong ”Hồi
ký giáo dục”, Nhà giáo Nguyễn Lân cho biết, Trường Thăng Long lúc bấy giờ (năm
1934) chỉ được phép đào tạo học sinh đi thi Cao đẳng tiểu học (tương đương với
Trung học cơ sở hiện nay) vì ông Hiệu trưởng Phạm Hữu Ninh chỉ có bằng Cao đẳng
tiểu học. Trong niên khóa 1934 – 1935, trường này có tổ chức ôn thì cho hơn
30 học sinh chuẩn bị thi tú tài phần 1 và đã có 7 người thi đỗ. Những học sinh này đều
học ở các nơi khác là chính, chỉ nhờ các thầy ở Trường Thăng Long kèm cặp thêm.
Sự thi đỗ hay trượt là do sức học của họ là chính, không thể nói là do Trường Thăng
Long đào tạo, càng không thể nói là do thầy giáo Nguyễn Lân đào tạo.
Cũng
theo “Hồi ký giáo dục”, đến năm 1965,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội mới có
Khoa Tâm lý – Giáo dục. Nhà giáo Nguyễn Lân làm Chủ nhiệm khoa đầu tiên, từ năm 1965 đến năm 1971 chứ không phải từ năm 1956 đến năm 1971 như đã ghi trong tiểu sử.
Trước năm 1965, ông làm tổ phó Tổ Tâm lý – Giáo dục. Thầy giáo Nguyễn hữu Tảo
(1900 – 1966) - người mà ông Nguyễn Lân coi là bậc đàn anh về tuổi tác và về
kinh nghiệm, đã giữ chức Tổ trưởng cho đến
khi về hưu (cuối năm 1964). Ông Nguyễn Lân viết: “Khi cụ Tảo xin về hưu, tôi lại trở thành tổ trưởng” (Vinh quang nghề thầy, trang 40).
Hiện nay không
có bằng chứng để khẳng định tính xác thực
của “Hồi ký giáo dục” này (ví
dụ như các giấy tờ cũ của các trường mà
Nhà giáo Nguyễn Lân theo học, các bản tin trên báo chí đương thời, v.v.) nhưng
đây là tài liệu duy nhất nói về những sự kiện trong quãng đời đi học và dạy học
của ông, do chính ông viết ra, cho nên,
đó vẫn là tài liệu duy nhất đáng tin hơn cả. Nhưng người
tuyển chọn bài, những người viết bài và những người biên tập ba quyển
sách ca ngợi nhà giáo Nguyễn Lân vẫn
không cần chú ý đến những sự sai lệch, thiếu nhất quán ngay trước mắt như thế,
điều đó chứng tỏ rằng họ không quan tâm đến sự đúng hay sai, chỉ cần gán cho nhà giáo
Nguyễn Lân thật nhiều thành tích và phẩm chất cao quý, theo hướng đã định sẵn .
Do đó, có thể tin rằng, các bài viết để tán tụng nhà giáo Nguyễn Lân không thể
phản ánh nhứng giá trị thực trong cuộc đời và sự nghiệp của ông
Câu hỏi 2:
Bác
M.H. còn nói rằng, nhà giáo Nguyễn Lân
cùng với các nhà giáo nổi tiếng và xuất sắc khác như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Ngụy Như Kon-Tum, Đặng Thai Mai, Nguyễn Khánh Toàn... thuộc lớp người đầu tiên được nhà nước Việt Nam
phong Học hàm Giáo sư, và chính nhà giáo
Nguyễn Lân cũng luôn luôn tự nhận mình là Giáo sư nhưng nhiều cựu sinh viên Đại
học Sư phạm Hà Nồi người vẫn nói rằng, ông Nguyễn Lân chỉ là Giáo sư tự phong mà
thôi.. Vậy, đâu là sự thực?
Trả lời:
▌Nhà giáo Nguyễn Lân đã được hầu hết mọi người gọi là
Giáo sư. Các nhà lãnh đạo như Đỗ Mười, Võ Văn Kiệt, các vị Bộ trưởng, Hiệu trưởng,
v.v., đều gọi như thế. PGS Lê Khánh Bằng
ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội cũng khẳng định: “Thầy
đã được phong học hàm Giáo sư”. Chính ông Nguyễn Lân cũng luôn luôn ghi
danh hiệu Giáo sư ở các bài báo hoặc các quyển sách của mình..
Tiểu sử của nhà giáo Nguyễn Lân ở từ điển
Wikipedia tiếng Việt trên mạng
Internet (hiển nhiên là đã được thân nhân của nhà giáo Nguyễn Lân hoàn toàn tán
thành), được viết như sau:
● Năm 1927: Ông thi đỗ Thủ khoa vào Trường Cao đẳng Sư phạm Đông
Dương. (sai!)
● Năm 1932: Ông dạy tại Trường
Hồng Bàng, sau đó làm giám học và dạy 2 môn văn, sử tại Trường Thăng Long. Tại
Trường Tư thục Thăng Long, cùng với các nhà giáo giỏi như Đặng Thai Mai, Hoàng Minh Giám, Tôn Thất Bình... , ông đã đào tạo ra những tú tài xuất sắc cho Việt
Nam.
..........
●
Năm1956: Ông về dạy tại khoa tâm lý giáo dục của
trường Đại
học Sư phạm Hà Nội. Ông cùng với các nhà giáo nổi tiếng và xuất sắc khác như: Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Ngụy
Như Kon Tum,
Đặng Thai Mai, Nguyễn
Khánh Toàn...
là lớp người đầu tiên được nhà nước Việt Nam phong Học hàm Giáo sư.
● Năm 2001: Ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Nhà nước về khoa học và
công nghệ cho "Cụm công trình về giáo dục học và từ điển tiếng Việt".
Như vậy, rất
nhiều người, rất nhiều tài liệu đã khẳng định rằng, nhà giáo Nguyễn Lân là một
trong những người đầu tiên đã được phong
tặng chức danh Giáo sư, cùng với các trí thức nổi tiếng khác như Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, v.v. Tuy
nhiên, muốn biết nhà giáo Nguyễn Lân có
được phong học hàm Giáo sư hay không, chúng
ta phải dựa vào các Quyết định chính thức của Nhà nước trong các lần phong tặng
học hàm Giáo sư.
Trong
Quyết định 162/CP do Thủ tướng Phạm
Văn Đồng ký ngày 11 tháng 9 năm 1956
về việc phong hàm giáo sư cho 29 nhà giáo, nhà khoa học tiêu biểu (trong đó có
các ông Tạ quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, v.v.), có tên những người sau đây:
● Sử học (5): Đào
Duy Anh, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Huyên, Phạm Huy Thông, Nguyễn Khánh Toàn. ● Văn học (3): Đặng Thai Mai, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu. ●Triết học (1): Trần Đức Thảo. ● Toán học (2): Tạ Quang Bửu, Lê Văn Thiêm. ● Vật lý (1): Ngụy Như Kon Tum. ● Hóa học (1): Nguyễn Hoán. ● Y
học (14): Đặng Văn Chung, Hồ Đắc Di, Vũ Công Hòe, Đỗ Xuân Hợp, Đặng Vũ Hỷ, Nguyễn Xuân Nguyên, Đặng Văn Ngữ, Đặng Văn Nội, Trương Công Quyền, Phạm Ngọc Thạch, Đinh Văn Thắng, Hoàng Tích Trí, Tôn Thất Tùng, Trần Hữu Tước. ● Nông học (1): Lương Định Của. ● Cơ khí (1): Trần Đại Nghĩa.
Quyết định này
không ghi tên nhà giáo Nguyễn Lân. Như vậy, ông Nguyễn Lân không được phong
học hàm Giáo sư trong đợt đầu tiên (năm 1956) như mọi người vẫn ngoa truyền.
Ở các đợt phong học hàm Giáo sư tiếp theo
(vào các năm 1980, 1984,
1986, 1988, 1989, 1991, 1992, 1996, 1997, 2001, 2002, 2003) cũng không có tên nhà giáo
Nguyễn Lân.
Hầu
như tất cả các nhà giáo đã từng được
Chính phủ mời ra dạy Đại hoc hối cuối
năm 1945 hoặc đã day các lớp Dự bị Đại học
trước năm 1954 đều được phong Giáo sư theo Quyết
định 162/CP năm 1956. Chỉ có hai vị trong
số đó không được phong Giáo sư, đó là cụ Cao Xuân Huy và cụ Nguyễn Thúc Hào (đều
quê ở Nghệ An), có lẽ vì họ xuất thân từ các gia đình địa chủ, quan lại. Nhà
giáo Nguyễn Lân đến năm 1956 mới được cử vào bộ môn Tâm lý – Giáo dục ở Đại học
Sư pham Hà Nội, làm phụ tá cho nhà giáo
Nguyễn Hữu Tảo (1900 – 1966) cho đến hết năm 1964. Nhà giáo Nguyễn Hữu Tảo (về
hưu tháng 12/1964) chưa được phong học hàm Giáo sư, bởi vậy, nhà giáo Nguyễn Lân không được phong Giáo sư
là lẽ đương nhiên.
Năm
2004, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội cùng với Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước đã
xuất bản
cuốn sách GIÁO SƯ VIỆT NAM (khổ
19x27cm, 1132 trang; mỗi trang đều in ảnh, sơ yếu lý lịch và thành tích khoa học
của một giáo sư) Tại trang 11 có DANH SÁCH CÁC GIÁO SƯ ĐƯỢC NHÀ NƯỚC PHONG TRƯỚC NĂM 1980, gồm 29
người, sắp xếp tên theo thứ tự ABC, như sau:
- ĐÀO DUY ANH (Sử học)
- TẠ QUANG BỬU (Toán học)
- ĐẶNG VĂN CHUNG (Y học)
- LƯƠNG ĐỊNH CỦA (Nông học)
- HỒ ĐẮC DI (Y học)
- TRẦN VĂN GIÀU (Sử học)
- NGUYỄN HOÁN (Hóa học)
- VŨ CÔNG HÒE (Y học)
- ĐỖ XUÂN HỢP (Y học)
- NGUYỄN VĂN HUYÊN (Sử học)
- ĐẶNG VŨ HỶ (Y học)
- ĐẶNG THAI MAI (Văn học)
- TRẦN ĐẠI NGHĨA (Cơ khí)
- NGUYỄN XUÂN NGUYÊN (Y học)
- ĐẶNG VĂN NGỮ (Y học)
- ĐẶNG VĂN NỘI (Y học)
- TRƯƠNG CÔNG QUYỀN (Y học)
- PHẠM NGỌC THẠCH (Y học)
- TRẦN ĐỨC THẢO (Triết học)
- ĐINH VĂN THẮNG. (Y học)
- LÊ VĂN THIÊM (Toán học)
- PHẠM HUY THÔNG (Sử học)
- NGUYỄN KHÁNH TOÀN (Sử học)
- HOÀNG TÍCH TRÝ (Y học)
- NGỤY NHƯ LON TUM (Vật lý)
- TÔN THẤT TÙNG (Y học)
- TRẦN HỮU TƯỚC (Y học)
- NGUYỄN MẠNH TƯỜNG (Văn học)
- TRƯƠNG TỬU (Văn học)
Danh
sách này hoàn toàn phù hợp với danh sách kèm theo Quyết định 162/CP kể trên. Ở đó không có tên nhà giáo Nguyễn Lân.
Từ trang 13 đến trang 1100 ghi tên các Giáo sư
được phong trong các đợt tiếp theo đến năm 2003, cùng với tiểu sử và thành tích
của từng người (mỗi vị chiếm trọn 1
trang nhưng một số vị không nộp hồ sơ
thì được ghi tên chung trong một số trang, không có ảnh và không có tiểu sử). Gần
hai chục trang cuối cùng là Danh sách 1094 Giáo sư được phong từ đợt đầu tiên
năm 1956 đên năm 2003, sắp xếp tên theo thứ tự ABC. Trong số đó có một người
tên là Nguyễn Lân nhưng ông này là Kiến trúc sư, sinh năm 1940, quê ở huyện
Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế chứ
không phải là nhà biên soạn từ điển Nguyễn Lân.
Trong
đám thư từ chúc tết và mừng thọ nhà giáo Nguyễn Lân khi ông còn sống (in trong
quyển Vinh quang nghề thầy do ông
Nguyễn Lân Dũng tuyển chọn bài vở), người ta thấy Cố thủ tướng
Phạm Văn Đồng đã gọi ông là “Lão
đồng chí”, Cố phó thủ tướng
Tố Hữu thì gọi ông là “thầy”, Cựu phó thủ tướng Nguyễn Khánh thì gọi ông
là ‘bác”, chứ không gọi ông là “Giáo sư”.
Các vị cựu lãnh đạo này rất cẩn
trọng trong việc sử dụng ngôn từ. Họ không nhầm, không sơ hở trong cách xưng
hô. ▌
Một người lên tiếng:
Như vậy, rõ ràng là nhà giáo Nguyễn
Lân chưa từng được Nhà nước phong học hàm Giáo sư. Danh hiệu Giáo sư của
nhà giáo Nguyễn Lân là một danh hiệu tự phong. Chính ông cùng các con cháu của
ông đã quảng bá danh hiệu đó một cách
công nhiên, đầy tự hào, coi như một danh
hiệu chính thức có thật.